xu ly nuoc thai

Giới thiệu các chỉ tiêu môi trường về chất lượng nước thải

Nước thải sinh hoạt có những đặc tính và chỉ tiêu chất lượng chung có thể phán đoán và đánh giá khi chọn các công trình xử lý đã phổ biến, còn nước thải công nghiệp có đặc tính và chất lượng rất khác nhau tùy thuộc vào từng loại nhà máy mức độ trang thiết bị nên rất khó có những chỉ tiêu chung để đánh giá chất lượng nước thải đầu ra cho các loại công nghiệp, mỗi loại công nghiệp có nước thải khác nhau so với nước thải sinh hoạt vì vậy phải tiến hành khảo sát, đo lường, phân tích và đánh giá để tìm ra phương pháp xử lý thích hợp.

Nước thải sinh hoạt khi chua bị phân hủy có màu nâu, chứa nhiều cặn lơ lững và chưa bốc mùi khó chịu. Trong nước thải sinh hoạt có chứa rất nhiều chất rắn lơ lửng như phân người, động vật, xác một số động vật chết, mảnh vụn thức ăn, dầu mỡ, gỗ, võ trái cây, nhựa, bông gạc, và các phế thải khác sau khi phục vụ cho ăn uống sinh hoạt của con người thải ra môi trường nước.

Dưới điều kiện môi trường nhất định, vi khuẩn tự nhiên có trong nước và đất tấn công vào chất thải gây ra các phản ứng sinh hóa làm biến đổi tính chất của nước thải. Nước thải sẽ chuyển dần từ màu nâu sang màu đen và có mùi hôi thối khó chịu.

Nước thải là hỗn hợp các hợp chất rất nhiều chất hóa học phức tạp, nên việc phân tích đánh giá riêng lẽ các hợp chất này rất khó khăn không thể thực hiện hoàn chỉnh được, mà chỉ có thể xác định chính xác một cách chung chung hàm lượng các chất hữu cơ và các chất vô co có trong nước thải.

Để phục vụ cho các quy trình xử lý làm sạch nước thải bằng phương pháp sinh học, cần phân tích các chỉ tiêu chất lương như : tổng hàm lượng cặn, hàm lượng cặn lơ lửng (SS), cặn hữu cơ, cặn vô cơ có trong nước thải, nhu cầu oxy sinh hóa(BOD), nhu cầu oxy hóa họa(COD), hàm lượng nito, hàm lượng photpho, pH, nhiệt độ trong nước.

II. Thành phần và tính chất của cặn trong nước thải

Hiện có nhiều phương pháp phân loại và xác định thành phần và tính chất của cặn trong nước thải ;

II.1 Tổng hàm lượng cặn

Là tổng số của tất cả các loại cặn có nguồn gốc hữu cơ và vô cơ có trong nước thải ở trạng thái lơ lửng và hòa tan (tính bằng mg/l)

Để xác định tổng hàm lượng cặn, lấy mẫu nước thải cho vào tủ sấy, giữ ở nhiệt độ không đổi 105 độ C cho bay hơi hết, cặn còn lại gọi là cặn khô, đem đi cân sẽ thu được tổng hàm lượng cặn trong mẫu và biểu thị bằng ml/l

II.2 Cặn hữu cơ

Cặn hữu cơ trong nước thải có nguồn gốc từ thức ăn người, động vật đã tiêu hóa và một phần nhỏ dư thừa thải ra từ xác động vật chết, cây lá thối rửa tạo nên. Thành phần hóa học của chất hữu cơ là cacbon (C), hydro (H2), Oxy ( O2), một số chất có thêm nito (N2), photpho (P), lưu huỳnh (S).

Dạng tồn tại của cặn hữu cơ trong nước chủ yếu là protein, cacbonhydrat, chất béo và các sản phẩm phân hủy của chúng. Các hợp chất hữu cơ này bị phân hủy thối rửa do các hoạt động của vi sinh và vi khuẩn sống trong nước, dễ cháy và dẽ bắt lửa.

Cặn hữu cơ thường cháy và bay hơi hoàn toàn ở nhiệt độ là 550 đến 600 độ C, nên đôi khi còn được gọi là cặn bay hơi.

II.3 Cặn vô cơ

Cặn vô cơ là các chất trơ , không bay hơi, đôi khi kết hợp với những hợp chất vô cơ phức tạp khác ở điều kiện nhất định sẽ bắt đầu phân rã. Cặn vô cơ có nguồn gốc khoáng khác nhau như muối khoáng , cặn, bùn, sạn, độ kiềm, độ cứng, và các chất thường gặp trong nước cấp. Cặn vô cơ thường không cháy ở nhiệt độ cao.

Đem sấy tiếp cặn khô ở nhiệt độ 550 đến 600 độ C toàn bộ cặn hữu cơ sẽ cháy hết lượng còn lại là cặn vô cơ, đôi khi còn được  gọi là độ tro của cặn.

 Núi lửa Pavlof phun ra hàng tấn tro bụi mỗi năm

 

Add a Comment